Bí ẩn 73 giếng cổ ở ngôi làng ven đô Hà Nội

Người xưa có câu “Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Sở”. Cổ Sở là mảnh đất địa linh nhân kiệt, vì vậy việc đào 73 cái giếng theo cụ Hân là để cắt đứt long mạch.

Giếng cổ suất hiện rất nhiều nơi nhưng điều đặc biệt một ngôi làng lại tồn tại 73 chiếc giếng cổ giống hết nhau về cấu trúc và một số các chi tiết khác…

Bước chân đến xã Yên Sở chỉ cần hỏi “Đình không xà, làng có 73 giếng” thì người dân trong làng có thể chỉ rõ từng vị trí của giếng, có thể nói đây là di tích đặc biệt ở nơi đây nhưng không ai biết sự xuất hiện của giếng có từ bao giờ

Người dân trong làng hay gọi những chiếc giếng cổ là “giếng đá”.

Từ xa xưa, ở vùng quê này có ngôi đình thờ Thành Hoàng Làng, rộng hơn 500m2, các cột đình dựng rất lớn, 2 người ôm không xuể. Điều đặc biệt là gần 50 cột ấy đều không có mối đục của các xà đấu lại với nhau. Các cột dựng đứng, mái gác lên trên đỉnh cột. Nhưng đến năm 1947, ngôi đình đã bị thực dân Pháp đốt phá, đến nay không còn nữa.


Giếng cổ nay không còn sử dụng, đã được phủ bề mặt để bảo vệ.

 

Đình đã không còn do chiến tranh nhưng làng vẫn may mắn gìn giữ được những chiếc giếng cổ, 73 chiếc giếng nằm rải rác khắp ngôi làng.
Mỗi giếng đều có cấu tạo giống hệt nhau, ở dưới đáy giếng là 2 phiến gỗ lim chắc chắn. Trải qua thời gian dài, các phiến gỗ lim vẫn không hề bị mủn, hư hỏng.

Từ phiến gỗ lim này, người xưa đã xếp các phiến đá lên theo hình tròn để tạo thành chiếc giếng. Các phiến đá đều không dùng hồ, vữa gắn kết mà vẫn chắc chắn.

Mỗi giếng hàng chục phiến đá, người dân có thể dùng tay bám vào những phiến đá này để lên xuống dễ dàng.

“Mỗi năm, người dân trong làng thường thay nhau tát cạn nước để thau rửa giếng. Chỉ chỉ cần vịn chân, tay vào vách đá để leo xuống đáy giếng và leo lên một cách dễ dàng”, ông Nguyễn Chí Hoành, một cao niên trong làng đồng thời là người trông coi giếng Vang (thôn 1, xã Yên Sở) cho biết.

Anh Thanh bên một trong 73 chiếc giếng cổ của làng.

Anh Thanh (người dân ở xóm 1, xã Yên Sở) chia sẻ: “Người ta có thể lay các phiến đá này. Tuy nhiên nó không hề bị rơi ra, nhiều năm vẫn tạo thành một khối vững chắc. Hai phiến gỗ lim được lý giải là điểm chặn, giúp các phiến đá phía trên không bị lún sâu xuống đất”.

Giếng đã trở thành một phần không thể thiếu với người làng. Người dân thường đến gánh nước về dùng nấu ăn, sinh hoạt. Chiều chiều, phụ nữ giặt đồ và trẻ con có thể tắm ngay bên giếng.

Người dân ở đây cho biết, họ thường phải dậy sớm để gánh nước bởi nếu đến muộn, nước sẽ không còn. Nước của giếng nổi tiếng trong, mát vào mùa hè và rất ấm vào mùa đông. Người làng còn khẳng định, trẻ con bị rôm sẩy tắm nước giếng đều hết.

73 giếng nước đã trở thành nơi cung cấp nước chính cho người dân cả một vùng. Làng Đắc Sở còn có đặc sản là món bánh gio. Họ cho rằng, điều làm nên vị thanh mát đặc biệt của món bánh chính là nguồn nước lấy từ các giếng cổ.

Khá kỳ lạ là 73 giếng đều có một miếu nhỏ bên cạnh. Người xưa tin rằng, giếng nào cũng có thổ địa nên họ lập miếu, chăm sóc chu đáo. Vào các ngày Rằm hay mùng 1, người dân đều đến thắp hương xin bình yên, may mắn trong cuộc sống.

Ngày nay, các nhà đều có giếng khoan và dùng nước máy nên chỉ còn lại vài giếng làng giữ được công năng sử dụng.

Điều đặc biệt, cạnh mỗi chiếc giếng đều có miếu thờ thần linh, thổ địa. Nhưng khi được hỏi những miếu này được lập nên từ bao giờ thì người dân nơi đây không ai biết.

Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng, thời xưa Mã Viện, một viên tướng của Trung Quốc đã cho quân lính đào hơn 70 chiếc giếng để lấy nước ăn khi chiếm đóng vùng này. Tuy nhiên, đây chỉ là giai thoại.


Cụ Nguyễn Bá Hân trao đổi với PV ĐS & PL về nguồn gốc giai thoại của những cái giếng.
Ảnh: Hữu Thắng

Để hiểu hơn về nguồn gốc của những chiếc giếng, chúng tôi tìm đến nhà cụ Nguyễn Bá Hân (91 tuổi) là người đã dày công nghiên cứu và hiểu rõ về văn hóa lịch sử của vùng đất này. Theo cụ Hân, về nguồn gốc của những cái giếng này có nhiều giải thích khác nhau. Nhưng, dựa vào nghiên cứu của mình, cụ cho rằng, nếu giặc phương Bắc đào chỉ để nuôi quân thì chưa hợp lý. Bởi, nếu chỉ để lấy nước ăn tại sao phải đào gần trăm cái giếng, cái nào cũng giống cái nào, hơn nữa còn vô cùng cầu kỳ và tốn công. Người dân đào thì cũng không đúng, bởi thời bấy giờ dân cư thưa thớt không cần đào đến nhiều như vậy.

Giả thuyết được cụ cho là hợp lý và có cơ sở nhất đó là, giai thoại giếng cổ với pháp sư Cao Biền. Cao Biền là quan của nhà Đường ở An Nam đô hộ Phủ (khu vực Hoàng Thành Thăng Long). Theo giai thoại ông ta đến vùng đất này để “trấn yểm” long mạch. Người xưa có câu “Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Sở”. Cổ Sở là mảnh đất địa linh nhân kiệt, vì vậy việc đào 73 cái giếng theo cụ Hân là để cắt đứt long mạch. Tuy nhiên, đây cũng mới là ý kiến của một cá nhân ham tìm hiểu, giải mã các câu chuyện văn hóa, chưa có cơ sở khẳng định đúng sai.

Điều khiến người ta tò mò nhất không chỉ dừng lại ở số lượng 73 chiếc giếng, mà còn ở cấu tạo của chúng. Dù nằm rải rác ở nhiều vị trí khác nhau song điểm chung của những chiếc giếng này là nước rất trong, phía dưới có một phiến gỗ lim rất dày nhưng bao đời nay không hề mủn. Thành giếng được xếp đá quay tròn, không dùng xi măng mà vẫn vô cùng chắc chắn.

Trong cuốn sách “Kẻ Giá – Tên đất tên người”, cuốn sách mà cụ Hân đã dày công nghiên cứu nói về văn hóa lịch sử của vùng quê này có viết: “Mỗi cái giếng khơi có một phiến gỗ lim, vừa dày vừa to dùng để lát đáy, xung quanh xếp đá quay tròn không có hồ vữa gì nhưng thật là chắc chắn… Mỗi giếng sâu ít nhất cũng là 4 đến 5m, số đá để xếp thành cho mỗi cái giếng cũng phải tốn từ 10 đến 12 khối”.

Ông Nguyễn Bá Hoàn – Phó Chủ tịch UBND xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội cho biết: “Giếng cổ không chỉ là nơi cung cấp nước sinh hoạt mà còn là di tích lịch sử, văn hóa quan trọng của xã Yên Sở. Chính quyền xã vẫn luôn động viên bà con giữ gìn và bảo tồn giếng cổ như một nét văn hóa chứ không nên quá tin vào yếu tố tâm linh

Sưu tầm