Ý nghĩa của nghi lễ Tắm Phật

Theo lịch sử ghi nhận thì Đức Phật đản sanh ở thành Ca Tỳ La Vệ, thành đạo ở Bồ Đề Đạo Tràng, thuyết pháp ở thành Ba La Nại và Ngài nhập diệt ở Câu Thi Na. Phật giáo Nguyên thủy cũng xác định cuộc đời của Đức Phật như vậy.

Tuy nhiên, tinh thần Phật giáo Đại thừa nhìn về Đức Phật không đơn giản như thế. Thật vậy, với tầm nhìn sâu sắc, Phật giáo Đại thừa không chỉ thấy Phật là con người trọn lành như lịch sử đã ghi nhận, mà còn triển khai tính cách siêu tuyệt của Đấng Đại Đạo Sư với quan niệm tam thân Phật: sanh thân, Báo thân và Pháp thân. Ngoài sanh thân như bao nhiêu người trên thế gian, Đức Phật vượt trội hơn mọi người, làm Thầy của Trời người vì Ngài còn tạo tác được một Báo thân viên mãn. Đó là thân phước đức trọn vẹn và trí tuệ vô song của Phật mới đóng vai trò quan trọng trong việc giáo hóa độ sanh.

Trong hệ thống tư tưởng Đại thừa, kinh Hoa Nghiêm còn hướng tầm nhìn về Phật cao hơn nữa. Dưới nhãn quan Hoa Nghiêm, tri thức và đạo đức của Phật chẳng những là tấm gương kiểu mẫu cho một số người noi theo, mà quan trọng hơn nữa là cả một xã hội đương thời phải nương theo tri thức và đạo đức của Bậc Toàn giác để hình thành một xã hội tốt đẹp, văn minh, gọi là Tịnh độ. Tịnh độ của Phật, nói đơn giản là một nước mà ở đó chỉ có con người tài đức và xã hội trong sáng hoàn toàn. Đó là tinh thần Đại thừa đã nâng con người và xã hội lên mức lý tưởng như vậy và biến lý tưởng thành hiện thực.

Trong ngày Lễ Phật đản, một trong những nghi thức kỷ niệm mà các chùa đều tổ chức là lễ Tắm Phật. Làm lễ Tắm Phật, Tăng Ni Phật tử thường đọc bài chú Tắm Phật như sau:

Ngã kim quán mộc chư Như Lai 
Tịnh trí trang nghiêm công đức tụ 
Ngũ trược chúng sanh tịnh ly cấu 
Đồng chứng Như Lai tịnh Pháp thân 
Tỳ Gia thành lý vị tằng sanh 
Sa La thọ gian vị tằng diệt 
Bất sanh bất diệt lão Cồ Đàm 
Nhãn trung khán kiến trùng thiên tiết 
Kim triêu chính thị tứ ngoạt bát 
Tịnh Phạn vương cung sanh Tất Đạt 
Cửu long phúng thủy thiên ngoại lai 
Bỗng túc Liên Hoa tùng địa phát 
Án mâu ni, mâu ni, tam mâu ni, tát phạ ha.

Bốn câu đầu của bài kệ có nghĩa là chúng ta tắm gội các Đức Như Lai để làm cho thân tâm của chính chúng ta được trong sạch và nhờ đó mới tích tụ được công đức.

Tại sao tắm Đức Như Lai mà lại làm cho chúng ta được trong sạch? Đó là ý quan trọng mà tinh thần Đại thừa muốn khai mở.

Thật vậy, dưới kiến giải của Đại thừa, Như Lai không phải là bức tượng gỗ trên bàn thờ, vì thế chúng ta không tắm tượng Như Lai ấy; hay nói đúng hơn, chúng ta nương theo hình thức tắm tượng Như Lai để nhắm đến mục tiêu quan trọng hơn, đó là gội rửa chính bản thân chúng ta cho thanh tịnh.

Và trong hệ thống tư tưởng Đại thừa, kinh Hoa Nghiêm được coi là đỉnh cao đã có cái nhìn phóng khoáng đến vô cùng, theo đó Đức Như Lai mà chúng ta cần quan tâm đến chính là những người hiện hữu tham dự lễ Tắm Phật, họ đang phát tâm Bồ đề hướng về Phật. Hướng tâm đến Phật nghĩa là hướng đến bậc thánh thiện trọn lành, thì lực thanh tịnh trọn lành ấy sẽ tác động như một màng lọc làm cho tâm họ lắng yên, xa rời những thứ nhơ cấu, triền phược và trở thành trong sạch. Thân tâm có thanh tịnh thì công đức mới tích tụ. Thân tâm ô uế thì không thể nào tiếp nhận được những làn sóng thánh thiện của Phật truyền đến, tất nhiên không thể tu tạo được công đức.

Theo Phật dạy thì trên bản thể, chúng ta và Phật đồng nhau, không khác. Nhưng vì chúng ta mê muội để cho bụi bặm phiền não nhiễm ô bám vào dày đặc, nên không thể tu tạo được công đức hoặc làm cho công đức tiêu tan, ta mới trở thành phàm phu khổ đau. Ý thức như vậy, bước theo dấu chân Phật, chúng ta phải tẩy rửa bụi bặm trần lao, trong sạch hóa thân tâm, từ đó phát triển công đức đầy đủ để chứng được thân chân thật giống như Đức Như Lai, gọi là Pháp thân.

Lễ Tắm Phật đã thấm sâu vào sinh hoạt tín ngưỡng của nhân gian, nhưng nhiều người chưa hiểu được yếu nghĩa của bài kệ trên. Tuy nhiên, với tinh thần kính trọng Phật cao độ, nên thực tế chúng ta thấy sau buổi lễ Tắm Phật, nhiều người thường chia nhau nước tắm Phật để uống, hoặc đổ nước lên người khác. Tục lệ này ngày nay còn được người Thái Lan tôn trọng qua lễ hội tạt nước vô người khác như lời cầu mong cho mọi người gội sạch được bụi bặm phiền não của cuộc đời, thân tâm được mát mẻ, an vui.

Đoạn thứ hai của bài kệ nhằm nhắc nhở chúng ta ý thức rằng Đức Phật thực không Đản sanh ở thành Ca Tỳ La Vệ và Ngài cũng chưa từng nhập diệt ở Sa La song thọ. Đức Phật bất sanh bất diệt ấy vẫn tồn tại miên viễn từ xa xưa cho đến ngày nay và hằng hữu mãi đến ngàn sau.
Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hiện tượng lịch sử về cuộc đời của sanh thân Phật Thích Ca đã hiện hữu trên đất Ấn Độ. Yếu nghĩa quan trọng mà tinh thần Đại thừa muốn nhấn mạnh chính là nhắc nhở chúng ta không nên chấp chặt vào hình thức, dù đó là hình thức của đạo. Thật vậy, bài kệ trên phủ nhận hình thức đến mức nói rằng nếu thấy Phật sanh ở Ca Tỳ La Vệ và nhập diệt dưới cây Sa la, tưởng Phật hạn hẹp như vậy làm tâm ta sẽ có thêm vấn đề suy nghĩ theo vọng thức, nên bị vô minh ngăn che, phiền não nổi dậy mà khởi tâm thương tiếc, khóc than là không còn Phật nữa.

Nhìn thấy hình tượng Phật nhân lễ kỷ niệm Phật đản sanh ngày mùng 8 tháng 4, chúng ta liền hình dung Đức Phật ra đời ở cung vua Tịnh Phạn, có 9 con rồng phun nước, có 7 đóa hoa sen nổi lên đỡ chân Phật và theo thời gian, Phật lớn tuổi dần, rồi nhập diệt ở cây Sa la. Nghĩ nhớ về Phật như vậy thì theo tinh thần Đại thừa chẳng khác gì chúng ta coi trọng hiện tượng sanh diệt, chỉ làm ta thêm phiền não, không được thanh tịnh ví như cảm giác bị xốn xang khó chịu khi hạt bụi rơi vào mắt ta.

Dưới kiến giải của Đại thừa, Đức Phật không sanh cũng không diệt ở cuộc đời này, còn hiện tượng sanh diệt trên cuộc đời là Ngài tùy duyên giáo hóa chúng sanh mà có, không phải thực.
Thâm nhập tinh thần này, việc quan trọng nhất của người tu hành là làm cho thân tâm của chính mình được thanh tịnh và chứng được quả vị Như Lai không sanh diệt đồng với Phật.
Vì vậy, đừng tưởng có Phật sanh diệt làm chúng ta kẹt với con người hữu hạn mà không bao giờ được giải thoát. Đừng chấp vào hình thức lễ nghi quá nhiều mà kẹt vào hiện tượng giới và bị những việc không cần thiết bao vây, ràng buộc, thì không phát triển tâm linh được và cũng đánh mất tánh giải thoát của đạo Phật.

Cần ý thức những hình thức sinh hoạt của Phật giáo là phương tiện nhằm giúp cho ta và người thăng tiến Bồ đề, phát huy chơn tâm thanh tịnh, sáng suốt và hành động lợi ích cho đời mà chúng ta vẫn an trụ tự tại giải thoát.

Nhận chân và áp dụng được yếu nghĩa của bài kệ Tắm Phật trong cuộc sống tu hành, đạt được kết quả lợi lạc cho bản thân và mọi người. Đó là món quà vô giá mà Tăng Ni, Phật tử chúng ta dâng lên cúng dường Đức Từ phụ.

HT.Thích Trí Quảng


Theo truyền thuyết, ngay khi Thái tử Tất Đạt Đa đản sanh, có hai vị Long vương đến phun hai dòng nước tắm cho Thái tử. Một vị phun dòng nước lạnh và một vị phun dòng nước nóng.

Hai dòng nước lạnh và nóng tượng trưng cho hai cảnh giới thuận và nghịch của cuộc đời, hai cảnh giới vui buồn và sướng khổ của cuộc sống hằng ngày, mà tất cả mọi người sanh ra trên thế gian này phải chịu đựng. Thái tử Tất Đạt Đa đã chịu đựng được hai dòng nước lạnh và nóng đó, sau này trở thành Đức Phật Thích Ca.

Trong kinh sách, Đức Phật dạy rằng: người nào chịu đựng được những cảnh thuận nghịch của cuộc đời, mà tâm vẫn bình thường, bình tĩnh thản nhiên, an nhiên tự tại, thì người đó là một vị Phật trong tương lai. Đây là ý nghĩa hết sức thâm trầm vi diệu của đạo Phật.

Trong kinh sách, những cảnh thuận nghịch của cuộc đời được gọi là: bát phong. Bát là tám, phong là ngọn gió. Bát phong chia làm bốn cặp, mỗi cặp gồm hai cảnh giới thuận nghịch, đó là: lợi lộc và suy sụp, hủy báng và danh dự, xưng tán và chỉ trích, khốn khổ và lạc thú.

Trên đời này, cảnh khổ quá nhiều: sanh lão bệnh tử là khổ, cầu mong không được, thương yêu phải chịu chia lìa, thù ghét gặp nhau, thân thể ốm đau, tâm loạn động bất an cũng đều khổ. Còn hưởng thụ các lạc thú trên đời cũng không ít việc đưa đến phiền não khổ đau sau đó.

Trong Phật giáo, thường có nhiều hình thức nghi lễ, nhằm mục đích truyền bá giáo lý sâu rộng trong nhân gian, giúp đỡ mọi người xây dựng cuộc sống hiện đời được an lạc và hạnh phúc hơn. Nghi lễ tắm Phật dựa vào truyền thuyết hai vị Long vương phun hai dòng nước, một dòng nước lạnh và một dòng nước nóng, tắm cho Thái tử Tất Đạt Đa trong ngày đản sanh nói trên.

Khi múc gáo nước đầu tiên, tắm bên vai phải của tôn tượng Đức Phật đản sanh nhỏ nhắn, chúng ta tâm nguyện rằng: dù trên đời có gặp việc phải, vừa ý, gọi là thuận cảnh, tâm của chúng ta vẫn bình tĩnh thản nhiên. Khi múc gáo nước thứ hai, tắm bên vai trái của tôn tượng xinh xắn, chúng ta tâm nguyện rằng: dù trên đời có gặp việc trái ý, gọi là nghịch cảnh, tâm của chúng ta vẫn bình tĩnh thản nhiên.

Đây chính là ý nghĩa sâu xa của nghi lễ tắm Phật và việc tu tập theo đạo Phật vậy…!!!

(Thích Chân Tuệ)


Bài kệ chú tắm Phật

Khi đức Phật đản sinh, trên trời có chín rồng phun hai dòng nước ấm mát tắm rửa cho Ngài, cùng lúc ấy, chư thiên tung hoa trời, trổi nhạc trời chúc mừng thái tử. Tắm Phật là nghi thức tưới nước thơm lên tượng Phật sơ sinh, ngoài mục đích kỷ niệm đức Phật đản sinh còn mang ý nghĩa sâu sắc về sự tẩy trừ phiền não, hướng đến sự thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý của con người. Nghi thức tắm Phật đã có từ xa xưa ở Ấn Độ, các tự viện thường thực hiện nghi lễ tắm Phật như một nhu cầu cần thiết để cầu phước diệt tội. Khi tiến hành lễ tắm Phật, bài kệ tắm Phật được xướng tụng là:

Ngã kim quán mộc chư Như Lai
Tịnh trí trang nghiêm công đức tụ
Ngũ trược chúng sanh linh ly cấu
Đồng chứng Như Lai tịnh pháp thân.
Tỳ Gia thành lý bất tằng sinh
Sa La thọ gian bất tằng diệt
Bất sanh bất diệt lão Cồ Đàm
Nhãn trung khán kiến trùng thiêm tiết.
Kim triêu chính thị tứ ngoạt bát
Tịnh Phạn vương cung sinh Tất Đạt
Phún thủy cửu long thiên ngoại lai
Bỗng túc liên hoa tùng địa phát.
Án mâu ni, mâu ni, tam mâu ni, tát bà ha.

我今灌沐諸如來
淨智功德莊嚴聚
五濁眾生令離垢
同證如來淨法身
毘耶城裏不曾生
娑羅樹間不曾滅
不生不滅老瞿曇
眼中看見重添節
今朝正是四月八
淨飯王宮生悉達
噴水九龍天外來
捧足蓮花隨地發
唵,牟尼,牟尼,三牟尼,薩婆訶.

Dịch là:
Con nay rưới tắm các Như Lai
Trí sạch trang nghiêm công đức lớn
Chúng sanh năm trược rời cấu trần
Cùng chứng Như Lai tịnh pháp thân.
Trong thành Tỳ Gia chưa từng sinh
Giữa cây Sa La chưa từng diệt
Bất sinh bất diệt đức Cồ Đàm
Trong mắt nhìn xem càng thêm bớt.
Sáng nay là mồng tám tháng tư
Cung vua Tịnh Phạn sinh Tất Đạt
Chín rồng phun nước ngoài trời đến
Hoa sen đỡ bước theo đất mọc.
Án mâu ni, mâu ni, tam mâu ni, tát bà ha.
Bốn câu đầu là bài kệ tắm Phật trong kinh Dục Phật Công Đức, theo đó dịch sát là: Nay con rưới tắm thân của các đức Như Lai, thân ấy là khối công đức được trang nghiêm bởi trí tuệ thanh tịnh, cầu nguyện chúng sanh ở trong giai đoạn đầy năm thứ vẩn đục cho họ thoát ly mọi thứ dơ bẩn, cùng chứng pháp thân thanh tịnh của Như Lai.

Nói về Như Lai là phải nói đến phước trí nhị nghiêm. Để chứng đắc địa vị Phật đà, chư vị bồ tát phải tích tụ tư lương phước trí trải qua ba A tăng kỳ kiếp bằng sự tu tập trí tuệ vô phân biệt thông đạt pháp tánh viên minh, thuận phần chân như thanh tịnh. Chư vị bồ tát còn cụ bị đại bi, đại nguyện, đại tinh tấn trong việc hóa độ chúng sanh, nhất là chúng sanh bị năm thứ vẩn đục vây quanh. Năm thứ vẩn đục là: thời kỳ vẩn đục, kiến thức vẩn đục, tâm lý vẩn đục, con người vẩn đục, đời sống vẩn đục (kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược). Bồ tát hóa độ chúng sanh bằng mọi phương tiện thiện xảo mà cứu cánh là mong chúng sanh diệt được tất cả mê hoặc, cùng chứng đắc pháp thân thanh tịnh của Như Lai. Pháp thân của Như lai thì thường trú bất diệt, biến khắp pháp giới, thanh tịnh bản tịch, ứng hiện không có thêm bớt, tùy thuận niết bàn sinh tử.

Bốn câu kế tiếp là nói pháp thân thanh tịnh của Như Lai thì bất sinh bất diệt. Cách đây hơn 25 thế kỷ, vào ngày trăng tròn tháng tư âm lịch, tại nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) miền trung Ấn Độ, bồ tát Hộ Minh đã giáng trần, qua hiện thân thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhartha Gautama), con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Maya. Ngài đã vì lòng từ bi, vì sự an lạc, hạnh phúc, giải thoát cho chúng sanh, nên xuất hiện ở cõi Ta bà nầy. Về sau Ngài xuất gia, tu hành và thành đạo dưới cội Bồ Đề hiệu là Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni), trở thành giáo chủ trong ba cõi, bậc thầy của chư thiên và loài người. Qua 49 năm thuyết pháp độ sanh, ngài đã để lại cho nhân loại một kho tàng giáo lý vô tận, những quy luật đạo đức cao siêu, để hướng dẫn con người hướng thiện và giải thoát. Trong cánh rừng Sala, phía nam thành phố Câu Thi Na (Kusinagara), vào một đêm rất tối và tĩnh mịch, Đức Phật nằm nghiêng bên phải, hướng về phía tây và dần nhập niết bàn, một trạng huống tánh tịnh vô trú.
Trước hết cần phải hiểu đạo lý sinh diệt. Sinh là biểu hiện, diệt là kết thúc. Sự kết thúc của giai đoạn này là sự biểu hiện của giai đoạn kế tiếp. Như vậy sinh diệt tiếp nối tương tục, sinh là diệt, diệt là sinh, do đó sinh không thật sinh, diệt không thật diệt. Sinh không thật sinh nên gọi là bất sinh, diệt không thật diệt nên gọi là bất diệt. Nghĩa lý bất sinh bất diệt nằm trong sinh diệt. Đức Phật có ba thân là tự tánh thân, thọ dụng thân và biến hóa thân. Tự tánh thân là pháp thân thanh tịnh, tự tại trong các pháp. Thọ dụng thân là thân Phật trong đại tập hội của chư Phật gồm toàn chư vị bồ tát. Biến hóa thân là thân Phật từ cung trời Đâu Suất, thị hiện ẩn mất, rồi thọ sinh, thọ dục, vượt thành xuất gia, đến chỗ ngoại đạo, tu hành khổ hạnh, chứng đại bồ đề, chuyển đại pháp luân, nhập niết bàn vô trú. Ở góc độ đạo lý sinh diệt thì sự giáng sinh và diệt độ của đức Phật Thích Ca Mâu Ni lịch sử cũng là bất sinh bất diệt. Qua cái nhìn pháp thân thì mang sắc thái thường trú, bất sinh bất diệt, vì thân ấy từ chân như thanh tịnh dẫn ra, từ bản nguyện dộ sinh không có thời kỳ kết thúc. Dùng con mắt phàm phu mà xem xét pháp thân thì chỉ là vọng kiến điên đảo, thêm bớt sinh diệt: “Nhãn trung khán kiến trùng thiêm tiết.” Đức Phật vẫn hiện hữu nhưng vì chúng sanh không thấy đó thôi. Như Đại thừa trang nghiêm kinh luận có ghi: “Đồ đựng nước bị bể, ánh trăng không hiện ra, như vậy lỗi chúng sanh, tượng Phật cũng chẳng hiện.”

Bốn câu sau cùng là nhắc lại việc đản sinh của đức Phật. Hằng năm, vào ngày mồng 8 tháng tư âm lịch, các chùa tổ chức lễ hội Tắm Phật. Lễ hội ấy dựa theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả rằng khi đức Phật đản sinh có hai con rồng phun nước hương thơm, một dòng ấm một dòng mát, rưới lên kim thân thái tử Tất Đạt Đa. Kinh Phổ Diệu thì nói đến chín con rồng ở trên không trung rưới nước hương thơm xuống tắm rửa thái từ vừa đản sinh. Theo kinh Ưu bà di pháp môn tịnh hạnh, thái tử vừa đản sinh thì đã biết đi, “nhẹ nhàng đi bảy bước trên bảy hoa sen”. Mỗi bước chân thái tử nhìn về một phương, cả thảy sáu phương: đông, tây, nam, bắc, hạ, thượng. Đến bước thứ bảy thì thái tử một tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống đất, tuyên bố: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”. Nói xong, chư thiên dâng hai dòng nước ấm mát tắm cho thái tử, sau đó thái tử trở lại như mọi đứa trẻ bình thường.
Ý nghĩa bảy bước hoa sen, theo kinh Ưu bà di pháp môn tịnh hạnh, như sau: Bước thứ nhất, nhìn về phương đông, ngài nguyện làm người dẫn đường tối thượng. Bước thứ hai, nhìn về phương nam, ngài nguyện làm ruộng phước tốt cho chúng sanh. Bước thứ ba, nhìn về phương tây, ngài nói đây là thân rốt sau. Bước thứ tư, nhìn về phương bắc, ngài nói sẽ chứng đắc Vô thượng bồ đề. Bước thứ năm, nhìn xuống phương hạ, ngài nói sẽ hàng phục ma quân phiền não. Bước thứ sáu, nhìn lên phương thượng, ngài nguyện làm nơi y chỉ cho chư thiên và loài người. Bước cuối cùng, ngài tuyên bố: “Trên trời, dưới trời chỉ có Ta là trên hết”, bởi lẽ sự kiện một đức Phật xuất hiện ở đời như một bậc tôn quý nhất, tối thắng nhất là vô tiền khoáng hậu. Kinh Tăng Chi Bộ ghi: “Một người, này các tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc tối thượng giữa các loài hai chân. Người ấy là ai ? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán Chánh đẳng chánh giác.”
Một tượng Phật Thích Ca sơ sinh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, được đặt trong một cái chậu nước sạch có rắc hoa thơm. Phật tử sắp thành hàng dọc, vừa tụng kệ chú tắm Phật, vừa tiến đến trước tượng Phật, múc một muỗng nước hương thơm rưới tắm lên tượng Phật. Nghi thức tắm Phật ấy hàm ẩn một ý nghĩa cao siêu, đó là pháp thân Phật vốn thanh tịnh, dụ cho Phật tánh vốn tiềm ẩn trong mỗi người, nhưng vì bị bụi bặm phiền não tham, sân, si … che lấp nên Phật tánh không hiển lộ ra được. Muốn hiển lộ Phật tánh cần mượn nước để tẩy rửa bụi bặm che lấp Phật tánh. Quán chiếu việc tắm Phật như là việc gội rửa nội tâm để tìm lại tự tánh sáng ngời vốn sẵn có của mình. Múc một muỗng nước hương thơm rưới từ trên vai tượng Phật sơ sinh, nếu tâm ta có niệm tham, niệm sân, niệm si … thì xin nguyện cho những tâm niệm xấu ác này theo dòng nước thanh tịnh mà trôi đi, chuyển hóa nội tâm trở nên trong sáng.
Tắm Phật cũng là sự biểu lộ lòng thành kính của mình với đức Phật, nguyện báo ơn Phật vì nghĩ nhớ ơn nặng của Ngài: “Đức Thích Ca Như Lai của chúng ta, lúc mới phát tâm, đã vì chúng ta mà thực hành bồ tát đạo, trải qua vô lượng kiếp chịu đủ khổ cực. Khi ta tạo tội, Phật đã xót thương, phương tiện giáo hóa, mà ta ngu si, không biết tin tưởng, tiếp nhận. Ta đọa địa ngục, Phật càng đau xót, muốn chịu thay khổ sở cho ta, nhưng nghiệp ta quá nặng, hết cách cứu vớt. Ta sinh loài người, Phật liền dùng phương tiện làm cho ta gieo trồng thiện căn. Đời đời kiếp kiếp, Phật theo dõi ta, lòng không lúc nào rời bỏ chốc lát.” (Khuyến phát bồ đề tâm văn, đại sư Thật Hiền, H.T Trí Quang dịch)
Chúng con nguyện:
Dứt bỏ dục tình ngoan cố,
Học đòi đức tánh quang minh,
Cúi xin Phật tổ giám thành,
Từ bi gia hộ,
Chúng con cùng pháp giới chúng sanh,
Chóng thành đạo quả.
Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.

Sưu tầm