Quan Đệ Ngũ

Quan lớn đệ ngũ còn gọi là Quan lớn Tuần Chanh là Tôn quan thứ 5 trong Ngũ vị Tôn ông. Nhiệm vụ của Ngài là thống quản nhân gian, thống lĩnh thiên âm binh.

Ngày 25/5: Tiệc Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Chanh

Quan Lớn Đệ Ngũ

Tên đầu đủ: Quan Đệ Ngũ Tuần Chanh. Ngoài ra còn gọi Quan Lớn Tuần, Quan Tuần, Quan Tuần Chanh. Quan Lớn Tuần Chanh là Quan thứ năm trong Ngũ vị Tôn Ông.

Tước phong: Đệ ngũ tôn quan thượng đẳng tối linh thần – Cao Lỗ đại vương – Đệ ngũ Tuần Chanh .

Nhiệm vụ: Ngọc Hoàng ban cho Ngài thống lĩnh thiên địa binh, thay quyền tam tứ phủ đại diện cho con người (nhân vi chúa tể), thu chấp kim ngân tài mã, giải oan nghiệp sớ cho trần gian.

Thân thế: Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Chanh, hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Chanh . Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông cũng giáng dưới thời Hùng Định Vương (Hùng Triều Thập Bát), trong một gia đình ở phủ Ninh Giang (nay là Hải Dương), ông cũng là vị tướng quân tài ba kiêm lĩnh thuỷ bộ, được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Chanh. Ông đã lập được nhiều công lao to lớn nên được sắc phong công hầu. Tại quê nhà, ông có cảm tình với một người thiếu nữ xinh đẹp, người thiếu nữ ấy vốn là vợ lẽ của quan huyện ở đó, nhưng vốn không hạnh phúc với cảnh “chồng chung”, nàng cũng đáp lại tình cảm của ông mà không hề nói cho ông biết là nàng đã có chồng. Vậy nên Quan Lớn Tuần Chanh vẫn đinh ninh đó là một tình cảm đẹp, hẹn ngày đưa nàng về làm vợ. Đến khi viên quan huyện kia biết chuyện, vu oan cho ông đã quyến rũ vợ mình. Quan Tuần Chanh bỗng nhiên mắc hàm oan, bị đem đày lên chốn Kì Cùng, Lạng Sơn. Tại đây, ông đã tự sát mong rửa oan, chứng tỏ mình vô tội, ông hoá xuống dòng sông Kì Cùng. Về lại nơi quê nhà, ông hiện thành đôi bạch xà, thử lòng ông bà nông lão, sau đó được ông bà nông dân nuôi nấng như thể con mình. Nhưng khi quan phủ biết chuyện ông bà nông lão tậu gà để nuôi đôi bạch xà, liền bắt ông bà phải lên cửa công chịu tội và giết chết đôi rắn kia đi. Hai ông bà thương xót, xin thả rắn xuống dòng sông Chanh, lạ thay khi vừa thả đôi bạch xà xuống thì chỗ đó tạo thành dòng xoáy dữ dội. Đến thời Thục Phán An Dương Vương, vua tập hợp thuyền bè để chống Triệu Đà ở ngay bến sông Chanh, nhưng tại chỗ dòng xoáy đó, thuyền bè không tài nào qua được mà lại có cơn giông tố nổi lên giữa dòng. Vua bèn mời các vị lão làng đến lập đàn cầu đảo thì lập tức sóng yên bể lặng, hơn nữa, quân sĩ ra trận cũng được thắng to. Ghi nhớ công đức, vua Thục giải oan cho ông và phong là Giảo Long Hầu. Sau này ông còn hiển thánh linh ứng, có phép nhà trời, cai quản âm binh, ra oai giúp dân sát quỷ trừ tà, dẹp hết những kẻ hại nước hại dân.

Trong hàng Ngũ Vị Tôn Ông, cùng với Quan Lớn Đệ Tam, Quan Lớn Đệ Ngũ cũng là một vị quan lớn danh tiếng hết sức lẫy lừng, được nhân dân xa gần tôn kính phụng thờ. Tuy đứng trong hàng năm của Ngũ Vị Tôn Ông, ông được thỉnh cuối cùng nhưng lại hay ngự về đồng nhất (bất cứ ai hầu Tứ Phủ, bất cứ dịp tiệc, đàn lễ nào đều phải thỉnh Quan Tuần Chanh về ngự). Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ tán đàn rồi múa thanh long đao. Khi có đại đàn mở phủ hay bất cứ lễ tiệc nào, sau khi thỉnh các quan lớn về, đều phải đợi đến khi giá Quan Lớn Đệ Ngũ về chứng một lần hết tất cả các đàn mã sớ trạng rồi mới được đem đi hoá.

Đền thờ chính thờ Quan Lớn Tuần Chanh
Quan Lớn Tuần Chanh cũng được thờ ở rất nhiều nơi nhưng phải kể đến hai nơi nổi tiếng bậc nhất:
+ Đền Ninh Giang hay Đền Quan Lớn Tuần Chanh lập bên bến sông (bến đò) Chanh ở Ninh Giang, Hải Dương. Đây là nơi chính quán quê nhà của ông, nơi ông trấn giữ duyên hải sông Chanh, cũng là nơi ông hiển tích.
+ Đền Kì Cùng lập bên bến sông Kì Cùng, qua cầu Kì Lừa (là nơi ông bị lưu đày). Ngày tiệc chính của quan là ngày 25/5 âm lịch (là ngày ông bị lưu đày và bảo nhân dân quê ông làm giỗ vào ngày này), ngoài ra vào ngày 14/2, các đền thờ ông cũng mở tiệc đón ngày đản sinh của quan.

Cung thờ Quán Đệ Ngũ

Một sự tích khác về Quan Lớn Tuần Chanh
Theo truyền thuyết, ngày xưa lưu truyền tại khu vực Đền Ninh Giang ngày nay: Ngày xưa ở làng Lạc Dục, huyện Tứ Kỳ có hai vợ chồng nhà nghèo, đã già mà chưa có con. Một hôm người chồng cuốc vườn bắt được ở cạnh bụi cây 2 quả trứng, ngỡ là trứng chim nên đem đi cất cẩn thận. Ngờ đâu, 2 quả trứng nở thành 2 con rắn. Người vợ sợ quá, định đem giết đi nhưng người chồng không nghe, nói rằng có lẽ trời cho ta khuây khỏa cảnh già đây. Quả nhiên, hai con rắn quấn quýt với 2 vợ chồng ông già. Một hôm ông cuốc đất, 1 con nhảy vào đùa nghịch, bị ông cuốc cụt đuôi (Về sau khi linh ứng, dân làng lập miếu thờ, gọi là miếu Ông Cộc, Ông Dài). Nhưng phải một nỗi, 2 con rắn ấy chỉ ăn gà thôi. Ông già đi ăn trộm gà cho chúng ăn nhiều rồi, sau sợ hàng xóm biết thì phải tội nên đành phải mang 2 con rắn vứt xuống sông Tranh. Chỗ vứt 2 con rắn ấy về sau sóng xoáy dữ lắm. Một hôm có bà công chúa muốn qua sông nhưng nước xoáy dữ, thuyền không qua được. Sau theo lời quan, dân sở tại đòi 2 vợ chông ông già đến hỏi chuyện. Bà lão sợ quá, bèn lấy 2 nắm cơm vứt xuống sông và nói rằng “con ơi, con có thương mẹ thì đừng nổi sóng nữa để mẹ khỏi tội”. Bà vừa nói xong thì sóng yên lặng.
Về sau có ông quan phủ tên là Trịnh Thường Quân được bổ về Ninh Giang. Ông lấy một người vợ lẽ đẹp lắm. Một hôm bà đi chơi thuyền trên sông Tranh, gặp một người dưới nước lên đòi lấy bà làm vợ. Bà nhất định không nghe. Đêm về, đang ngủ, bỗng lại thấy người đó hiện vào phòng, nhất định đòi lấy. Bà đem chuyện này nói với quan Phủ. QUan Phủ cũng lấy làm lạ nên phòng giữ cẩn thận. Một hôm ngài có việc quan đi vắng, đến luúc về thì thấy buồng không. Quan Phủ lấy làm phiền lắm, bèn từ chức, ngày ngày ra bờ sông Tranh tìm vợ. Sau gặp một ông Tiên tên là Quỷ Cốc ở miền Hải Quốc mách rằng bà Phủ đã bị Hoàng tử thứ 5 của Vua Thủy bắt xuống làm vợ rồi. Tiên Quỷ Cốc nghĩ thương tình quan Phủ nên giúp sức cho xuống được điện Vua Thủy mà kêu, Tiên cũng kêu hộ. Sau Vua Thủy cho cả hai vợ chồng về rồi bắt Hoàng tử thứ 5 đem đày ra sông Chanh. Từ đó dân ở 2 bên bờ thấy có nhiều điều kỳ dị nên lập đền thờ, gọi là đền Chanh. Dân quanh bến hoặc thuyền bè xuôi ngược qua đây nếu gặp sóng gió đều kêu cầu, sóng gió sẽ êm. Ai có cầu kiểu gì cũng đều linh ứng. Thỉnh thoảng những đêm trong sáng, có người trông thấy một thanh niên mũ áo từ trong đền đi ra. Người ta liền kháo nhau, đó là Quan lớn Tuần Tranh. Về sau, do có nhiều công giúp dân buôn thuyền, bán bè, qua sông bình an, may mắn nên vị thần được tôn là: Quan “đệ ngũ Chanh Giang Hoàng hợp tôn thần”. Đền Chanh có tiếng linh thiêng, cầu việc gì được việc ấy nên khách đến lễ ngày càng đông…

Văn QUAN ĐỆ NGŨ TUẦN CHANH

Trong khi thỉnh ông về, văn thường hát:

“Uy gia lẫm liệt tung hoành

Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài

Ninh Giang chính quán quê nhà

Dấu thiêng ghi để ngã ba Kì Cùng”

Hay nói về nỗi oan của ông, văn hát sử oán rằng:

“Nào ngờ đâu đất trời thay đổi

Người anh hùng mang tội xiềng gông

Tháng năm đày chốn Kì Cùng

Oan vì tuyết nguyệt đổi lòng ái ân

Trước cung điện triều đình tra xét

Bắt long hầu truyền hết mọi nơi

Oan vì bướm lả ong lơi

Triết hoa đoạt vũ tội trời không dung

Lệnh viễn xứ sơn cùng thuỷ kiệt

Nỗi oan này có thấu cao minh

Áo bào đã nhuộm chàm xanh

Tấm thân bách chiến tử sinh lẽ thường”

Hoặc có cả những đoạn ca ngợi công lao, tài đức của ông:

“Loa đồng hỏi nước sông Chanh

Đao thiêng dẹp giặc, anh hùng là ai

Sông Tranh đáp tiếng trả lời

Anh hùng lừng lẫy là người Ninh Giang”

Còn khi quan ngự đồng, khai quang chứng sớ điệp, ra oai giúp dân trừ tà thì văn hát rằng:

“Ông về truyền phán các quan

Tả cơ hữu đội lưỡng ban đáo đàn

Quân thuỷ quân bộ đôi hàng

Chư binh vạn mã hằng hà kéo ra

Lệnh truyền thiên đội vạn cơ

Quan Tuần bây giờ trắc giáng anh linh

Trước là bảo hộ gia đình

Sau ra thu tróc tà tinh phen này

Ra oai trần thế biết tay

Ngự lên đồng tử cứu rày nhân gian

Cứu đâu thời đấy khỏi oan…”

Văn QUAN ĐỆ NGŨ TUẦN CHANH Trong khi thỉnh ông về, văn thường hát: “Uy gia lẫm liệt tung hoành Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài Ninh Giang chính quán quê nhà Dấu thiêng ghi để ngã ba Kì Cùng” Hay nói về nỗi oan của ông, văn hát sử oán rằng: “Nào ngờ đâu đất trời thay đổi Người anh hùng mang tội xiềng gông Tháng năm đày chốn Kì Cùng Oan vì tuyết nguyệt đổi lòng ái ân Trước cung điện triều đình tra xét Bắt long hầu truyền hết mọi nơi Oan vì bướm lả ong lơi Triết hoa đoạt vũ tội trời không dung Lệnh viễn xứ sơn cùng thuỷ kiệt Nỗi oan này có thấu cao minh Áo bào đã nhuộm chàm xanh Tấm thân bách chiến tử sinh lẽ thường” Hoặc có cả những đoạn ca ngợi công lao, tài đức của ông: “Loa đồng hỏi nước sông Tranh Đao thiêng dẹp giặc, anh hùng là ai Sông Chanh đáp tiếng trả lời Anh hùng lừng lẫy là người Ninh Giang” Còn khi quan ngự đồng, khai quang chứng sớ điệp, ra oai giúp dân trừ tà thì văn hát rằng: “Ông về truyền phán các quan Tả cơ hữu đội lưỡng ban đáo đàn Quân thuỷ quân bộ đôi hàng Chư binh vạn mã hằng hà kéo ra Lệnh truyền thiên đội vạn cơ Quan Tuần bây giờ trắc giáng anh linh Trước là bảo hộ gia đình Sau ra thu tróc tà tinh phen này Ra oai trần thế biết tay Ngự lên đồng tử cứu rày nhân gian Cứu đâu thời đấy khỏi oan…”